Đề: Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc cả trong nội dung và nghệ thuật biểu hiện.Hãy làm sáng tỏ nhận định trên qua bài thơ Việt Bắc.

Dàn ý

1. Tính dân tộc trong Việt Bắc

– Khẳng định thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc.

– Được biểu hiện qua hai phương diện nội dung và nghệ thuật biểu hiện

1.1. Về nội dung

– Những bức tranh chân thực, đậm đà bản sắc dân tộc về thiên nhiên và con người Việt Bắc được tái hiện trong tình cảm thiết tha, gắn bó sâu sắc của tác giả.

– Tình nghĩa của người cán bộ và đồng bào Việt Bắc với cách mạng và kháng chiến, với Bác Hồ là những tình cảm cách mạng sâu đậm của thời đại mới. Những tình cảm ấy hòa nhập, nối tiếp vào nguồn mạch tình cảm vếu nước, đạo lí ân tình thủy chung vốn là truyền thống sâu bền của dân tộc ta.

1.2. Về nghệ thuật

– Thể thơ lục bát vừa tạo ra âm hưởng thống nhất mà lại biến hóa rất đa dạng. Câu thơ lúc dung dị, dân dã gần với ca dao lại cân xứng, nhịp nhàng, trau chuốt mà trong sáng, nhuần nhị đến độ cổ điển.

– Lối kết cấu đối đáp trong ca dao, dân ca cũng được vận dụng thích hợp, tài tình, phù hợp với nội dung tư tưởng, tình cảm của bài thơ

– Vận dụng phong phú, đa dạng chất liệu văn học và văn hóa dân gian, đặc biệt là ca dao trữ tình.

– Ngôn ngữ giàu hình ảnh, sử dụng rất nhuần nhuyễn phép trùng điệp của ngôn ngữ dân gian.

2. Đánh giá

– Đây chính là một nét tiêu biểu làm nên phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu, làm nên dấu ấn riêng trong thơ ông.

– Cũng chính là sức hút từ sáng tác của nhà thơ đối với bạn đọc.

Bài làm

Không phải đến Tố Hữu, những tinh hoa văn học của truyền thống dân tộc mới được chắt lọc, đưa vào thơ ca. Nhưng phải nói rằng đến nhà thơ, tính dân tộc được biểu hiện một cách đậm đà, cả trong nội dung và nghệ thuật. Và bài thơ Việt Bắc rất tiêu biểu cho nghệ thuật biểu hiện giấu dân tộc của thơ ông.

Đọc Việt Bắc, chỉ cần nhắm mắt lại và khẽ mường tượng, chúng ta sẽ thấy những bức tranh chân thực, đậm đà bản sắc dân tộc về thiên nhiên con người Việt Bắc được tái hiện trong tình cảm thiết tha, gắn bó số của tác giả.

          Qua hồi tưởng của chủ thể trữ tình, cảnh và người Việt Bắc hiện lên thật đẹp. Nỗi nhớ thiết tha của người cán bộ sắp về xuôi đã khắc sâu thiên nhiên rừng núi Việt Bắc với vẻ đẹp vừa hiện thực, vừa thơ mộng, thi vị, gợi lên nét riêng biệt, độc đáo so với bao miền quê khác của đất nước. Những người đã từng sống ở Việt Bắc, coi Việt Bắc cũng là quê hương thân thiết của mình mới có nỗi nhớ thật da diết, những cảm nhận thật sâu thấm thía về ánh nắng ban chiều, ánh trăng buổi tối, những bản làng trong sương sớm, những bếp lửa hồng trong đêm khuya, những núi sông suối mang những cái tên thân thuộc tất cả là khoảng thời gian và không gian lung linh kỉ niệm:

Nhờ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

Nhớ từng rừng nứa bờ tre

Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê Nơi đây.

Nhưng có lẽ đẹp nhất trong nỗi nhớ Việt Bắc là sự hòa quyện thắm thiết giữa cảnh với người, là ấn tượng không thể phai mờ về những người dân Việt Bắc cần cù trong lao động, thủy chung trong nghĩa tình:

Ta về, mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người.

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao dài thắt lưng.

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hải mang một mình

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.

Có thể thấy thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với bao vẻ đẹp thật đa dạng, phong phú, sinh động, thay đổi theo từng thời tiết, từng mùa. Gắn với từng khung cảnh ấy là hình ảnh những con người lao động bình dị: người đi làm nương rẫy, người đan nón, người hái măng… Bằng những việc làm tưởng chừng nhỏ bé của mình, họ đã góp phần tạo nên sức mạnh vĩ đại của cuộc kháng chiến. Chính nghĩa tình của nhân dân với cán bộ, bộ đội, sự đồng cam và san sẻ, cùng chung mọi gian khổ và niềm vui, cùng gánh vác mọi nhiệm vụ nặng nề, khó khăn, tất cả càng làm Việt Bắc thêm ngời sáng trong tâm trí của nhà thơ. Việt Bắc – đó là hình ảnh những mái nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son, là hình ảnh người mẹ trong cái nắng cháy lưng Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô, là những ngày tháng đồng cam công khổ thương nhau, chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng. Có thể nói, âm hưởng trữ tình vang vọng suốt bài thơ đã tạo nên khúc ca ngọt ngào, đằm thắm của tình đồng chí, nghĩa đồng bào, của tình yêu nhiên yêu đất nước, yêu đời. Đó là những tình cảm cách mạng sầu thời đại mới. Những tình cảm ấy hòa nhập, nối tiếp vào nguồn mạch tình cảm yêu nước, đạo lí ân tình thủy chung vốn là truyền thống sản dân tộc ta.

Tính dân tộc trong Việt Bắc không chỉ được biểu hiện trong nội dung tư tưởng mà còn được thể hiện đậm nét trong hình thức nghệ thuật.

Loading...
Xem thêm:  Phân tích nhân vật Tràng trong Vợ nhặt

Trước hết, phải thấy rằng toàn bộ bài thơ Việt Bắc đều được viết một thể thơ duy nhất – thể lục bát truyền thống. Tố Hữu thật tài tình vận dụng thể thơ dân tộc trong một bài thơ dài, Thể thơ lục bát với điệu ngọt ngào như lời ru dễ cuốn người đọc trôi theo dòng cảm xúc đầy miên man, tưởng như không có mạch lạc của bài thơ. Nó vừa tạo ra đi hưởng thống nhất mà lại biến hóa đa dạng, khiến bài thơ đi suốt một trăm năm mươi câu thơ mà không hề nhàm chán. Câu thơ lúc thì dung dị, dân dã gần với ca dao, lúc thì cân xứng, nhịp nhàng, trau chuốt mà trong sáng nhuần nhị đến độ cổ điển.

Cùng với thể thơ lục bát, lối kết cấu đối đáp trong ca dao, dân ca cũng được tác giả vận dụng một cách thích hợp, tài tình, phù hợp với nội dung tư tưởng, tình cảm của bài thơ.

Việt Bắc sáng tạo một hoàn cảnh đặc biệt để bộc lộ tình cảm, cảm xúc dạt dào, đó là cuộc chia tay đầy lưu luyến, có kẻ ở người đi, bâng khuâng bịn rịn: Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay. Đây là cuộc chia tay của những người đã từng sống gắn bó dài lâu (mười lăm năm ấy), đầy tình nghĩa sâu nặng, mặn nồng, từng chia sẻ mọi đắng cay, ngọt bùi, nay trong giờ phút chia tay, cùng nhau gợi lại bao kỉ niệm đẹp đẽ, cùng cất lên nỗi niềm hoài niệm tha thiết về những ngày qua, khẳng định nghĩa tình bền chặt và hẹn ước về tương lai. Cách cấu tứ trong ca dao, dân ca dùng để diễn tả những tâm trạng của tình yêu, tình nghĩa riêng tư, nay được Tố Hữu vận dụng sáng tạo vào việc thể hiện những nghĩa tình cách mạng rộng lớn. Cùng với cấu tứ ấy, một phần quan trọng trong ngôn ngữ của bài thơ cũng thuộc về hệ thống từ ngữ diễn tả những tâm trạng của tình yêu (mình, ta, nhớ, “Mình về mình có nhớ ta , thi tha, mặn nồng, bâng khuâng, bồn chồn, “Cầm tay nhau biết nói gì đó" nay”…). Bằng cách đó, bài thơ dẫn người đọc vào không khí ân tình của hồi tưởng và hoài niệm, của ước vọng và tin tưởng Chuyện nghĩa tình cách mạng, kháng chiến đã đến với lòng người con đường của tình yêu. Đây cũng chính là một nét rất đặc trưng cho bản sắc riêng của thơ Tố Hữu.

Bài thơ kết cấu theo lối đối đáp quen thuộc của ca dao, dân ca đây không chỉ là lời hỏi, lời đáp mà còn là sự hô ứng, đồng vọng. Do không chỉ nhằm giải đáp cho những điều đặt ra của lời hỏi mà con tán đồng, mở rộng, cụ thể và phong phú thêm những ý tình trong lời hỏi có khi trở thành lời đồng vọng ngân nga của những tình cảm chung. Sâu hơn, qua lớp đối thoại của kết cấu bên ngoài còn là lời độc thoại của tâm trạng đắm mình trong hoài niệm ngọt ngào hạnh phúc về quá khứ đẹp với nghĩa tình thắm thiết  tình nghĩa nhân dân, nghĩa tình kháng chiến và cách mạng, khát vọng về tương lai tươi sáng. Kẻ ở – người đi, lời hỏi – lời đáp ở đây có thể xem là một cách “phân thân” để tâm trạng được bộc lộ đầy đủ hơn trong sự hô ứng, đồng vọng, vang ngân.

Cùng với việc vận dụng nhuần nhuyễn thể thơ dân tộc và lối kết cấu đối đáp trong ca dao truyền thống, Việt Bắc còn được Tố Hữu đưa vào chất liệu văn học và văn hóa dân gian, đặc biệt là ca dao trữ tình. Mượn lại kiểu tiểu đối của ca dao, tác giả vừa nhấn mạnh ý thơ đồng thời tạo ra nhịp thơ uyển chuyển, cân xứng, hài hòa, làm cho lời thơ dễ nhớ, dễ thuộc, thấm sâu vào tâm tự:

Mình về rừng núi nhớ ai.

Trám bùi để rụng / măng mai để già

Điều quân chiến dịch Thu đông

Nông thôn phát động / giao thông mở đường…

Không chỉ có vậy, trong Việt Bắc, Tố Hữu còn học được cách sử dụng linh hoạt các đại từ nhân xưng mình – ta trong lời ăn tiếng nói nhân dân và trong ca dao xưa. Trong tiếng Việt, từ mình là chỉ bản thân (ngôi thứ nhất) nhưng cũng còn để chỉ đối tượng giao tiếp thân thiết, gần gũi – chỉ người bạn đời yêu mến (ngôi thứ hai), thường là chỉ dùng trong các quan hệ tình yêu, vợ chồng. Ở Việt Bắc, mình chủ yếu được dùng ở nghĩa thứ hai, điều đó phù hợp và tạo nên quan hệ gắn bó của hai nhân vật đối đáp. Nhưng có chỗ mình lại là chỉ ngôi thứ nhất: Ai lên mình gửi cho anh với nàng và có những lúc biến hóa, chuyển hóa đa nghĩa, vừa là chủ thể, vừa là đối tượng, hòa nhập làm một như trong các câu: Mình đi, mình có nhớ mình, Mình đi, mình lại nhớ mình. Chúng ta cũng có thể thấy sự chuyển nghĩa ở đại từ ta. Trong bài thơ, ta là ngôi thứ nhất, người phát ngôn, nhưng ta trong nhiều trường hợp là chỉ chung hai người, chỉ “chúng ta” (mình về mình lại nhớ ta, Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây, Lòng ta ơn Bác đời đời). Sự hoá thân của chủ thể trữ tình vào ta, mình khiến lời thơ nghe bâng khuâng, tình tứ đồng thời tạo ra sự gắn bó khăng khít giữa người đi với người ở….

Chúng ta còn có thể tìm thấy tính dân tộc ở ngôn ngữ thơ. Để tái hiện lại một thời cách mạng và kháng chiến đầy gian khổ mà dạt dào tình nghĩa, Tố Hữu đã sử dụng lời ăn tiếng nói giản dị, mộc mạc nhưng cũng rất sinh động của nhân dân. Đó là thứ ngôn ngữ rất giàu hình ảnh cụ thể: Nghìn đêm thăm thẳm sương dày, Nắng trưa rực rỡ sao vàng… và cũng là thứ ngôn ngữ rất giàu nhạc điệu: Chày đêm nện cối đều đều suối xa, Đêm, đêm rầm rập như là đất rung… Đặc biệt, nhà thơ sử dụng rất nhuần nhuyễn phép trùng điệp của ngôn ngữ dân gian: Mình về, mình có nhớ ta.

Mình về, có nhớ chiến khu, Nhớ sao lớp học i tờ, Nhớ sao ngày tháng cơ quan, Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều… tất cả tạo ra một giọng điệu trữ tình nghe thiết tha, êm ái, ngọt ngào như âm hưởng lời ru, đưa ta vào thế giới của kỉ niệm và tình nghĩa thủy chung.

Như vậy, có thể thấy Việt Bắc là bài thơ thể hiện đậm nét một trong những nét phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu: đậm đà tính dân tộc. Đó vừa là vẻ riêng, vừa là sức hút mãnh liệt của bài thơ đối với bạn đọc mọi thế hệ.

 

Xem thêm:  Bình luận ý kiến Phong cách chính là người - Buy-phông

 

 

Từ khóa tìm kiếm:

  • Thơ tố hữu đậm đà bản sắc dân tộc