Đề: So sánh hai tác phẩm của Nguyễn Tuân viết trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945: Chữ người tử tù và Người lái đò sông Đà, anh/chị nhận xét gì về những điểm chỗ giống nhau, khác nhau trong tư tưởng và nghệ thuật của Nguyễn Tuân?

Dàn ý

1. Điểm giống nhau trong tư tưởng và nghệ thuật của Nguyễn Tuân qua hai tác phẩm

– Quan sát, khám phá và diễn tả thế giới nghiêng về phương diện văn hóa, thẩm mĩ; quan sát, khám phá, diễn tả con người nghiêng về phương diện tài hoa, nghệ sĩ.

–  Cái đẹp là những hiện tượng gây ấn tượng sâu đậm, đập mạnh vào giác quan nghệ sĩ.

2. Sự khác nhau trong tư tưởng và nghệ thuật của Nguyễn Tuân qua hai tác phẩm

– Cảm hứng thẩm mĩ:

+ Chữ người tử tù hướng về quá khứ.

+ Người lái đò sông Đà hướng về hiện tại, tương lai. –  Quan sát và diễn tả con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ: )

+ Trong Chữ người tử tù, nhân vật Huấn Cao là người có tài viết chữ đẹp; thuộc lớp nhà nho tài hoa, bất đắc chí.

+ Trong Người lái đò Sông Đà, nhân vật ông lái đò là một người lao động bình thường, có tay lái ra hoa nghệ sĩ

 3. Đánh giá

– Những đổi mới trong tư tưởng và nghệ thuật ở các sáng tác sau Cách mạng đã cho thấy nỗ lực cách tân ở nhà văn.

– Đổi mới nhưng vẫn diễn ra trên một căn bản thống nhất.

 Bài làm

Hê-ra-clít từng nói một câu bất hủ: Không ai tắm hai lần trên một dòng 2 sông. Thực vậy, mọi sự vật, sự việc trên đời đều luôn vận động, luôn thay đổi và chính việc đổi thay ấy lại là sự ổn định của sự vật, sự việc. Theo đó, sự biến đổi trong tư tưởng và nghệ thuật ở những nhà văn như Nguyễn Tuân trong các sáng tác viết trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945 cũng là một lẽ vận động hết sức bình thường. Chỉ nhìn vào hai tác phẩm xuất sắc nhất của đời văn Nguyễn Tuân là Chữ người tử tù và Người lái đò Sông Đà, chúng ta sẽ thấy rõ điều đó.

Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn Việt Nam có tư tưởng nghệ thuật hết sức rõ ràng. Trong hành trình sáng tác của mình, ông đã xây dựng được cho mình một phong cách nghệ thuật độc đáo. Nguyễn Tuân ưa quan sát, khám phá và diễn tả thế giới nghiêng về phương diện văn hóa, thẩm mĩ; quan sát, khám phá, diễn tả con người nghiêng về phương diện tài hoa, nghệ sĩ.

Những thú uống trà, làm đèn kéo quân, đánh thơ, thả thơ, viết thư pháp… bước vào Vang bóng một thời của ông không đơn thuần chỉ là những nét đẹp của văn hóa truyền thống mà trở thành những “môn” nghệ thuật, đòi hỏi phải có những nghệ sĩ tài hoa. Đến lái đò, bắn giặc cũng phải thực tài hoa, uyên bác, Một điểm khác rất dễ nhận thấy trong sáng tác của Nguyễn chính là quan niệm về cái đẹp.

Nguyễn Tuân là người say mê đi tìm cái đẹp nhưng ông cho rằng chỉ những hiện tượng gây ấn tượng sâu đậm, đập mạnh vào giác quan nghệ sĩ như gió, bão, núi cao, rừng thiêng, thác ghềnh dữ dội..mới xứng đáng là cái đẹp. Đó là lí do trong Chữ người tử tù và trong Người lái đò sông Đà, nhà văn say sưa khắc họa chân dung một tử tù hiên ngang, khí phách và một ông – lái đò như dũng tưởng vượt thác leo ghềnh.

Trên nền tảng chung ấy, tư tưởng và nghệ thuật của Nguyễn Tuân đã – có sự chuyển biến ở các sáng tác trước và sau Cách mạng tháng Tám.

Trước hết, ở cảm hứng thẩm mĩ, có thể thấy trong Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân có xu hướng tìm về quá khứ như một cách để thoát li thực tại đen tối đương thời. Nhà văn trở về với một thời vang bóng xa xưa để kiếm tìm một vẻ đẹp còn vương sốt lại: nghệ thuật viết thư pháp. Cách mạng tháng Tám thành công đã mang đến cho nhiều nhà văn, nhà thơ trong đó có Nguyễn Tuân một nguồn sống mới dào dạt. Nguyễn không còn phải tìm về quá khứ nữa mà hồ hởi đón nhận hiện tại, tương lai. Viết Người lái đò sông Đà, nhà văn đi tìm cái đẹp trong chính cuộc sống bình dị của ngày hôm nay – vẻ đẹp của con người trong lao động – mà cụ thể đó là nghệ thuật chèo đò của một ông lái đò. Rõ ràng, hiện tại, tương lai đã mang đến Nguyễn Tuân một cảm hứng thẩm mĩ mới, rộng mở hơn nhưng gần gũi, thân thiết hơn.

Đọc văn Nguyễn Tuân, bất cứ ai cũng nhận thấy nhà văn rất ưa quan sát và diễn tả con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ. Những lớp tài hoa, nghệ sĩ trong các sáng tác trước và sau Cách mạng lại không hề giống nhau.

Thực vậy, Huấn Cao trong Chữ người tử tù là một một người có tài viết chữ rất nhanh và đẹp, “những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người”. Những con chữ của Huấn Cao không chỉ đẹp mà còn rất quý bởi sinh thời, ông mới chỉ viết hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân. Trong phần cuối truyện, nhà văn đã đưa người đọc chứng kiến một cảnh tượng xưa nay chưa từng có: cảnh cho chữ, uy nghi, trang trọng và cảm động:

Loading...

Trong một không khí khói tỏa như đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ. Khói bốc tỏa cay mắt, làm họ dụi mắt lia lịa.

Một người tù cổ đeo gông, chân tướng xiềng, đang dậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván.

Sẽ có người thắc mắc cảnh tượng đó thì có gì đẹp? Cho chữ lẽ ra phải ở chốn thư phòng, tại sao lại diễn ra ở chốn phòng giam chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián? Nhưng thực tế thì chính không gian ấy đã làm tôn lên vẻ đẹp của cảnh cho chữ. Giữa chốn bùn nhơ, giữa chốn giam hãm tù ngục, cái đẹp đã thoát thai với một sứ mệnh vô cùng trọng đại: cứu vớt con người. Và người truyền đi sứ mệnh ấy là Huấn Cao – người cho chữ. Gông xích không ghìm hãm, trói buộc được cảm hứng của người nghệ sĩ tài hoa, không ngăn được đôi tay dậm tô những nét chữ mềm mại, Buồng giam bẩn thỉu, tăm tôi không ngăn được ánh sáng của bó đuốc tẩm dầu, bóng đêm không làm đen bản được tấm lụa bạch căng trên ván. Bóng tối, cái xấu, cái ác đã phải đầu hàng trước ánh sáng của thiên lương, của tình tri kỉ, Người nghệ sĩ không chỉ sáng tạo cái đẹp mà còn cứu vớt tâm hồn con người bằng những lời tri âm sâu sắc: “Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi […]. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cả đời lương thiện đi….

Như vậy, có thể thấy trước Cách mạng, Nguyễn Tuân say sưa quan sát và diễn tả sự tài hoa của con người nhưng phải là những con người xuất chúng, thuộc thời trước còn vương sót lại, những người “đặc tuyến”. Đọc Người lái đò sông Đà, độc giả sẽ thấy có sự thay đổi trong cách khám phá, thể hiện con người của nhà văn.

Nhân vật chính trong Người lái đò sông Đà không thuộc lớp người “sinh lầm thế kỉ”, bơ vơ lạc lõng trong thời hiện đại mà là một người lao động hết sức bình thường trong xã hội hiện tại: người lái đò trên sông Đà. Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân, ông lái đò ngoài bảy mươi tuổi vẫn hiện lên như một dũng tướng, một nhà chính trị quân sự tài ba trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh, một nghệ sĩ có tay lái ra hoa. Với từng trùng vi thạch trận, ông đó có cách chinh phục khác nhau.

Ở cửa ải thứ nhất, ông đó hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng lao vào mình […]. Ông đò cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt lại méo bệch đi như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm. […] trên cái thuyền sáu bơi chèo, vẫn nghe rõ tiếng chỉ huy ngắn gọn tỉnh táo của người cầm lái. Hiện lên trước mắt chúng ta là một dũng tướng đang chiến đấu rất anh dũng trên trận địa. Mặc dù bị tấn công dữ dội nhưng vị tướng này vẫn hết sức bình tĩnh, tỉnh táo và quyết đoán. Vừa bước ra khỏi vòng vây thứ nhất, con đò đã phải đối diện với vòng vây thứ hai. Ông đò không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đồ ghì cương lái, bám chắc tay luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy. Vẫn hết sức nhanh nhẹn, tập trung nhưng lúc này ông đò như một kị mã thiện nghệ đang chế ngự con tuấn mã bướng bỉnh là dòng nước ngỗ ngược trên sông Đà. Đến trùng vi thạch trận thứ ba, ông đò vượt qua thật dễ dàng, nhanh chóng: Thuyền nút qua cổng đá cánh mở cánh khép. Vút, bút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lại được lượn được. Mặc dù không hiện lên trực tiếp nhưng qua hình ảnh con thuyền, chúng ta vẫn có thể hình dung hình ảnh ông đò trong lần vượt thác thứ ba: vô cùng tài hòa với những đường lái hết sức nhanh nhẹn, nhẹ nhàng. Khắc họa hình tượng ông lái đò, tác giả đã huy động tri thức chuyên môn của nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật khác nhau (sử học, địa lí học, khoa học quân sự, tri thức về võ thuật, nghệ thuật văn chương, hội họa, điêu khắc, âm nhạc, điện ảnh…) khiến nhân vật hiện lên cụ thể, sắc nét và ấn tượng.

Đi tìm vẻ đẹp của con người trong lao động, Nguyễn Tuân đã thể hiện sự hòa nhập đầy hứng khởi, mến yêu với cuộc đời mới. Và chúng ta không còn thấy một Nguyễn Tuân cô độc, độc tôn “cái tôi” nữa, dẫu sau Cách mạng, nhà văn vẫn giữ cho mình cá tính độc đáo vốn có.

Làm nghệ thuật, hơn ai hết các nghệ sĩ sẽ hiểu rằng cái mới, sự sáng tạo luôn là đòi hỏi bức thiết. Những đổi mới của Nguyễn Tuân trong tự tưởng và nghệ thuật ở các sáng tác sau Cách mạng đã cho thấy một nỗ lực cách tân – cách tân chính bản thân mình sao cho phù hợp với những đòi hỏi nghệ thuật của thời đại mới. Đổi mới – điều đó là vô cùng dễ hiểu ở nhà văn ham “xê dịch” như Nguyễn Tuân. Nhưng điều đáng quý là sự thay đổi đó vẫn diễn ra trên một căn bản thống nhất. Để chúng ta vẫn có một Nguyễn Tuân rất “ngông”!

 

 

 

 

Đánh giá bài viết

Từ khóa tìm kiếm:

  • sukhac nhau trong cách nhìn cái đẹp Nguyễn tuân trước và sau cách mạng tháng tám