Đề: Điểm gặp gỡ và nét độc đáo trong tư tưởng nhân đạo của Nam Cao, Thạch Lam qua hai truyện ngắn Đời thừa, Hai đứa trẻ.

Dàn ý

 1. Tư tưởng nhân đạo

– Tình cảm hướng tới con người, bảo vệ quyền làm người của con người.

– Biểu hiện:

+ Căm phẫn, tố cáo các thế lực chà đạp lên quyền sống của con người.

+ Thông cảm sâu sắc với những số phận bị vùi dập, khốn khổ.

+ Ca ngợi khẳng định ước mơ và khát vọng về quyền sống của con người.

– Được biểu hiện qua các hình tượng nghệ thuật, qua cảm hứng, cảm xúc, giọng điệu.

2. Chứng minh

2.1. Điểm gặp gỡ trong tư tưởng nhân đạo của các nhà văn

– Nguyên nhân nảy sinh tư tưởng nhân đạo của các nhà văn:

+ Sống và sáng tác trong môi trường xã hội thiếu sinh khí, ngột ngạt, tăm tối về mặt tinh thần.

+ Ý thức cá nhân phát triển cao, lí tưởng sống cao đẹp -> cùng quan tâm, thương cảm cho cuộc sống vô nghĩa, nhạt nhẽo, tàn lụi.

– Chứng minh:

+ An, Liên cùng những người dân nơi phố huyện sống cuộc sống mòn mỏi, lay lắt trong bóng tối.

+ Nam Cao xót thương cho văn sĩ Hộ: Có khát vọng, ước mơ, nhân cách nhưng chẳng làm được gì -> đời sống vô ích, Đời thừa.

-> Gióng lên tiếng chuông cảnh tỉnh: thay đổi môi trường xã hội, làm cho cuộc sống có ý nghĩa, có ích hơn.

2.2. Nét độc đáo

a. Đời thừa

– Tấm bi kịch tinh thần của người trí thức tiểu tư sản:

– Có ý thức về sức sống, khao khát sống cuộc sống có ý nghĩa bằng khả ng của mình >< gánh nặng áo cơm níu kéo, hoàn cảnh sống xô đẩy -> tan vỡ ước mơ, nguyên tắc sống bị vi phạm.

+ Mơ ước trở thành nhà văn có tên tuổi, viết được tác phẩm chung cho cả loài người >< được sống với những gì ấp ủ > phải viết những gì không muốn, tâm trạng chết mòn.

-> Sức tố cáo của tác phẩm sâu sắc hơn, diết dóng hơn. Nam Cao như đang viết về chính mình.

 – Khi miêu tả tâm trạng khốn cùng của nhân vật, Nam Cao kiên quyết để nhân vật đứng vững trên lập trường sống mà mình lựa chọn. Vì theo nhà văn, con người ta có thể đánh mất tất cả nhưng không thể đánh mất tình người -> Tiếng nói đòi quyền sống, đòi quyền cống hiến để cuộc sống con người trở nên ý nghĩa hơn.

b. Hai đứa trẻ.

– Cuộc sống tẻ nhạt, mòn mỏi ở phố huyện nghèo. An và Liên có ý thức về sự sống, cảm nhận sâu sắc cuộc sống đó -> buồn thương da diết.

Thái độ đồng tình, trân trọng ước mơ của hai đứa trẻ: Miêu tả cảnh đợi tàu tỉ mỉ. Cảnh đợi tàu thể hiện ước mơ, khao khát vươn tới cuộc sống tốt đẹp hơn.

3. Đánh giá

– Các nhà văn đã làm phong phú thêm chủ nghĩa nhân đạo trong văn học Việt Nam, đặc biệt khi “cái tôi” cá nhân đòi đấu tranh giải phóng mạnh

mẽ -> tư tưởng nhân đạo của các nhà văn có ý nghĩa vun đắp, khẳng định “cái tôi” ở từng con người cụ thể.

– Hai nhà văn đều là những người nghệ sĩ chân chính, có nhân cách, có tài năng -> Những nhà nhân đạo chủ nghĩa.

Bài làm

Nhắc đến Thạch Lam và Nam Cao, người ta nhớ ngay đến hai tác giả tiêu biểu của hai khuynh hướng văn học xuất hiện trong giai đoạn 1930 – 1945: lãng mạn và hiện thực. Chịu sự chi phối của những quan điểm sáng tác khác nhau liệu rằng giữa hai nhà văn này có sự tương đồng trong tự tưởng, tình cảm?

Trong dòng văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945, tên tuổi Nam Cao nổi lên như một nhà hiện thực chủ nghĩa xuất sắc, một nhà nhân đạo chủ nghĩa có tư tưởng nhân đạo lớn lao, Còn với Thạch Lam – một cây bút tiêu Biểu trong dòng văn học lãng mạn điều gì đã khiến nhà văn này được nhắc đến nhiều hơn cả số với các tác giả khác của nhóm Tự lực văn đoàn? Câu trả lời cũng chính là tư tưởng nhân đạo. Không giống sáng tác của Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo…, những trang viết của Thạch Lam rất gần với hiện thực và chan chứa một tấm lòng yêu thương chân thành, sâu sắc dành cho con người. Bởi thế nên, dẫu thuộc dòng văn học lãng mạn, nhưng đọc những Nhà mẹ Lê, Hai đứa trẻ…, người ta vẫn thấy Thạch Lam gần với Nam Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài hơn.

Nói đến cảm hứng nhân đạo là nói đến tình cảm hướng tới con người, bảo vệ quyền làm người của con người. Tác phẩm văn học chứa đựng tinh thần nhân đạo phải cất lên tiếng nói tố cáo các thế lực chà đạp lên quyền sống của con người; thể hiện niềm cảm thông sâu sắc với những số phận bị vùi dập, khốn khổ và nói lên ước mơ, khát vọng về quyền sống của con người. Hình tượng nghệ thuật, cảm hứng, cảm xúc, giọng điệu… sẽ là những phương tiện chính giúp người nghệ sĩ chuyển tải nguồn cảm hứng đó. Hai đứa trẻ (Thạch Lam) và Đời thừa (Nam Cao) là những tác phẩm văn học thể hiện sâu sắc điểm gặp gỡ và nét độc đáo trong tư tưởng nhân đạo của hai nhà văn.

Cùng sống trong xã hội thiếu thốn về mặt vật chất; tăm tối về mặt tinh thần, hơn ai hết, những con người nhạy cảm như Thạch Lam và Nam Cao thấu hiểu sự bí bức, ngột ngạt, thiếu sinh khí của môi trường sống. Nhưng một điều thật đáng trân trọng là không bởi thế mà ở hai nhà văn này mất đi ý thức cá nhân và lí tưởng sống cao đẹp. Thạch Lam và Nam Cao luôn xúc động và thương cảm sâu sắc nhất trước những cuộc sống vô nghĩa, nhạt nhẽo, tàn lụi.

Đọc Hai đứa trẻ, ấn tượng đầu tiên gieo vào lòng người đọc chính là kiếp sống tăm tối, tù đọng, mòn mỏi, lay lắt của những cư dân nơi phố huyện nghèo. Truyện được mở đầu bằng không gian của một buổi chiều tàn và khép lại bằng buổi đêm tịch mịch và đầy bóng tối. Không gian đó ôm trùm, gói trọn lấy cuộc sống của những người dân nghèo nơi phố huyện, khiến ta nhớ đến kiếp sống “ăn đêm” đầy bất trắc của con cò trong ca dao:

Cái cò mày đi ăn đêm .

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

Thạch Lam đã cố thắp lên trong không gian ấy bao nhiêu nguồn ánh sáng: ánh hồng của đám mây chiều, ánh sáng của những ngọn đèn, ánh sáng của những con đom đóm, thậm chí nhà văn còn kéo cả ánh sáng của hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh trên bầu trời xuống. Rồi nhà văn cũng cố tình khua động phố huyện bằng bao nhiêu thứ âm thanh: tiếng trống thu không, tiếng ếch nhái, tiếng muỗi, tiếng chõng nan… Thế nhưng, ngần ấy nguồn sáng cũng không đủ để thắp sáng, ngần ấy âm thanh cũng không đủ để làm phố huyện náo nhiệt, ồn ã hơn. Phố vẫn im ắng, buồn tẻ đến lạ kì và những người dân nghèo cứ lặng lẽ sống trong đêm tối mênh mông. Mẹ con chị Tí ngày nào cũng mở hàng nước, chờ đợi khách hàng là những người lao động nghèo như họ. Bác phở Siêu đều đặn bươn trải với gánh phở kĩu kịt đầy nặng nhọc, bóng bác mênh mông ngã xuống đất một vùng và kéo dài đến tận hàng rào hai bên ngõ. Vợ chồng bác xẩm góp chuyện bằng tiếng đàn bầu bật trong yên lặng, nghe não nề, thương cảm, đầy tức tưởi. Hình ảnh thằng con bò ra đất, ngoài manh chiếu, nghịch nhặt nhưng rác bẩn vùi trong cát bên đường gây ấn tượng mạnh mẽ bởi sự bần cùng, đói rách đáng thương. Dường như manh chiếu là giới hạn nhỏ hẹp mong manh duy nhất giữ họ lại với cuộc đời. Bà cụ Thi điên đi lần vào bóng tối, tiếng cười khanh khách nhỏ dần về phía làng biểu trưng cho kiếp người tàn tạ, khốn khổ. Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ. Mỗi người một cảnh nhưng rõ ràng, tất cả những cư dân ấy đều chung một bầu không khí mòn mỏi, tù túng, chật hẹp… Lời văn Thạch Lam dù khách quan nhưng hết sức nhẹ nhàng như thể ru vỗ, nâng niu những người dân nghèo nơi phố huyện. Và chỉ cần vậy thôi, độc giả cũng có thể cảm nhận được rằng người trí thức tiểu tư sản kia đang thấu hiểu, cảm thông, xót thương vô hạn cho những con người khốn khổ.

Cùng nỗi lòng thấu hiểu, cảm thông và xót thương vô hạn trước con người, trong Đời thừa, Nam Cao đã khắc họa trước mắt người đọc hình tượng một văn sĩ có khát vọng, ước mơ, có nhân cách nhưng lại luôn phải sống trong bi kịch, luôn phải sống cuộc đời vô ích.

Hộ là một nhà văn có tài, sống tâm huyết với nghề văn. Anh vốn nghèo nhưng là một nhà văn chân chính. Chính anh đã nghĩ đói rét không có nghĩa lí gì đối với mình bởi với Hộ, tình yêu văn chương có thể xua đi cái nghèo đói. Dốc lòng phụng sự nghệ thuật, anh đã tìm thấy ở đó niềm đam mê mãnh liệt có thể loại trừ những niềm đam mê khác: Đối với hắn lúc ấy, nghệ thuật là tất cả; ngoài nghệ thuật không còn gì đáng quan tâm nữa. Nghệ thuật là lẽ sống, là động cơ phấn đấu của Hộ, là đời sống tinh thần của Hộ, thiếu nghệ thuật, đời này thật tẻ nhạt: Hắn khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất. Hắn chỉ lo vun trồng cho cái tài của hắn ngày một thêm nảy nở. Họ đọc, ngẫm nghĩ, tìm tòi, nhận xét và suy tưởng không biết chán. Đã có lần Hộ từng nói với vợ: thử có người giàu bạc bạn nào thuận đổi lấy cái địa vị của tôi, chưa chắc tôi đã đổi. Một người như Hộ chẳng phải là mẫu hình lí tưởng của người nghệ sĩ chân chính sao?

Loading...

Không chỉ là nhà văn có tài năng, tâm huyết, Hộ còn là một con người có nguyên tắc sống rất nhân văn, đó chính là lẽ sống tình thương. Ngòi bút Nam Cao đã lặn sâu vào tâm tư của Hộ, đọc trong Hộ những suy nghĩ hết sức chân thực, sâu sắc: hắn có thể hi sinh tình yêu, thứ tình yêu vị kỉ đi: nhưng hắn không thể bỏ lòng thương. Bản thân Hộ cũng đã từng thực hiện triệt để nguyên tắc đó, Hộ đã cứu vớt, cưu mang mẹ con Từ khi Từ bi tình phụ; đã từ bỏ những hoài bão, ước mơ cao đẹp của mình để thực thi trách nhiệm của một người chồng, một người cha. Nhưng cuộc sống không phải lúc nào cũng bình yên và như ta mong đợi. có gia đình riêng Hộ phải đối Thật với muôn vàn khó khăn. Mà hơn hết, cuộc sống của giới trí thức tiểu tư sản nghèo bấy giờ lại vô cùng khốn khó: Nỗi đời cay cực đang giơ vuốt, Cơm áo không đùa với khách thơ (Xuân Diệu). Tháng nào cũng thế, một mình Hộ phải xoay xuở, chống đỡ với những tiền nhà… tiền giặt… tiền thuốc, tiền nước mắm… – toàn những thứ tẹp nhẹp, vặt vãnh nhưng lại là quá nhiều, quá lớn 80 với đồng lương ít ỏi và cái thói “ăn chơi bốc đồng” mỗi lần chán nản hay gặp bạn… Một cuộc sống như Hộ và bao trí thức tiểu tư sản nghèo khác đang phải chịu đựng liệu có phải là một cuộc sống thực sự? Nó có khác gì với cảnh đời của những người dân nghèo ở phố huyện trong câu chuyện của Thạch Lam?

Thông qua những trang viết của mình, Thạch Lam và Nam Cao đã dựng lên trước mắt người đọc những bức hình chân thực đến đau đớn về kiếp sống mòn mỏi, lay lắt, tù đọng, bế tắc của những con người khốn khó. Và thông qua đó, các nhà văn còn muốn đóng lên tiếng chuông cảnh tỉnh: Phải thay đổi môi trường xã hội, thay đổi môi trường sống của con người, phải làm sao cho cuộc sống có ý nghĩa, có ích hơn.

Đồng vọng một tiếng lòng thiết tha yêu con người nhưng môi nhà văn lại có cách thể hiện tình cảm đó một cách khác nhau. Trong Đời thừa, tấm lòng nhân đạo của Nam Cao được nhà văn lồng ghép trong khi miêu tả khối mâu thuẫn, xung đột tinh thần của nhân vật Hộ.

Như đã nói, Hộ có một niềm đam mê nghiệp văn chương mãnh liệt. Anh từng ấp ủ hoài bão lớn lao, cao đẹp: Cả một đời tôi, tôi sẽ chỉ biết một quyển thôi, nhưng quyển ấy sẽ ăn giải Nô-ben và dịch ra đủ mọi thứ tiếng trên toàn cầu. Rõ ràng, đó không phải là sự đam mê, thèm khát vinh quang tầm thường, cũng không phải là những lí lẽ huênh hoang, chếnh choáng hơi men mà đó là khát khao tự khẳng định mình. Hộ không muốn mờ mờ nhân ảnh mà muốn sự tồn tại của mình có nghĩa lí trên cõi đời. Đối với anh, nghệ thuật phải gắn liền với những khát khao tìm tòi, những cái mới mẻ. Nhưng những hoài bão lớn lao, đẹp đẽ kia đã tan biến khi chạm phải thực tế nghiệt ngã của “đời thừa”. Bi kịch bắt đầu nảy sinh khi Hộ ghép đời mình vào đời Từ, khi Hộ có cả một gia đình để chăm lo. Làm sao ước mơ của Hộ có thể thành hiện thực khi suốt ngày Hộ phải đối mặt với gánh nặng áo cơm? Để có tiền, anh phải viết những bài báo mà người đọc sẽ quên ngay sau lúc đọc. Bản thân Hộ đã nhận thấy bế tắc mình đương đầu: Còn gì đau đớn hơn cho một kẻ vẫn khát khao làm một cái gì nâng cao giá trị đời sống của mình, mà kết cục chẳng làm được cái gì, chỉ những lo cơm áo mà đủ mệt? Chính anh đã tự hạ thấp ý nghĩa đời sống của mình, tước bỏ đi thiên chức của một nghệ sĩ. Ý thức được cái chết của ngòi bút, Hộ vô cùng đau đớn. Hàng loạt tính từ buồn, hàng loạt những câu cảm thán Chao ôi.. đã khắc họa nỗi niềm đau đớn khôn nguôi trong Hộ. Nhưng đâu chỉ riêng anh mới phạm phải nỗi đau đó, có lẽ cả tầng lớp trí thức tiểu tư sản nghèo bấy giờ đều ý thức rất sâu sắc về tấm bi kịch tinh thần của giới mình.

Vậy mà nỗi đau tinh thần ở Hộ không chỉ có thế. Bi kịch thứ hai này thậm chí còn đau đớn hơn, đó là bi kịch của một con người coi tình thương nguyên tắc sống, là đạo lí cao cả nhất nhưng lại có những hành động thô bạo chà đạp lên nguyên tắc đẹp đẽ đó. Muốn thực hiện lí tưởng nghệ thuật, Hộ chỉ có con đường duy nhất là thoát li vợ con, giũ bỏ trách nhiệm. Đã có lúc anh nghĩ đến câu nói của một triết gia phương Tây: Phải biết đc, biết tàn nhẫn để sống cho mạnh mẽ. Nhưng Hộ không đành lòng vứt bỏ tình thương và Hộ đã lựa chọn tình thương dù đó là sự hi sinh to lớn. Phải từ bỏ những hoài bão cao đẹp về văn chương nên Hộ luôn sống trong nỗi u uất. Mỗi khi bị kịch tinh thần được men rượu và bạn bè khơi dậy, trong Hộ lại bừng lên khao khát, hoài bão lớn lao. Hơi rượu đã làm Hộ quên trách nhiệm, quên luôn nguyên tắc sống mình đã lựa chọn. Và anh đã hành động như một kẻ thiếu tình thương đối với chính vợ con mình. Anh sỉ vả vợ con,cho rằng họ là nguyên nhân trực tiếp của sự bế tắc. Nhưng cuối cùng, Nam Cao đã nhận thấy giữa ranh giới mong manh giữa Thiện và Ác và để nhân vật của mình đứng vững trên lập trường sống đã lựa chọn. Thái độ sám hối của Hộ đã thể hiện nhân cách trong sáng của con người. Con người ta có thể đánh mất tất cả nhưng không thể đánh mất tình người.

Miêu tả tấn bi kịch tinh thần của nhân vật, Nam Cao không chỉ thể hiện sự thấu hiểu, đồng cảm mà còn muốn cất lên tiếng nói đòi quyền sống, đòi quyền cống hiến để cuộc sống con người trở nên ý nghĩa hơn.

Khác với Nam Cao, Thạch Lam không đi sâu miêu tả tấn bi kịch trong tâm hồn con người. Nhưng không phải vì thế mà trang viết của nhà văn mất đi sức ám ảnh đối với người đọc. Đọc Hai đứa trẻ, người đọc được chứng kiến một cuộc sống tẻ nhạt, mòn mỏi ở phố huyện nghèo. Sống ở phố huyện đó, tưởng chừng như những con người sẽ mãi cam chịu, chấp nhận để bóng tối nhấn chìm. Nhưng đó chỉ là cảm quan, dự đoán của cá nhân chúng ta. Riêng Thạch Lam thì khác. Ông nhìn thấy trong tâm tư của mỗi số phận, mỗi kiếp sống đó một niềm khao khát nhẫn nại, da diết: Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ. Để rồi, trong đám người ấy, Thạch Lam đã tin cần trao gửi niềm khát khao ánh sáng, khát khao thay đổi cuộc sống ở hai đứa trẻ Liên và An.

So với đám dân nghèo sống ở phố huyện, An và Liên, dù chỉ là những đứa trẻ sớm phải vào đời nhưng lại là những con người có ý thức sâu sắc về sự sống. Chẳng phải ngẫu nhiên mà tâm trạng Liên trong từng thời khắc của buổi chiều, buổi đêm lại được Thạch Lam chú ý miêu tả hơn cả. Chứng kiến phố huyện đang dần đi vào chiều tàn, tiện ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen; đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị; Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn. Nỗi buồn trong Liên phải chăng là nỗi buồn mơ hồ, nỗi buồn con trẻ? Hay là nỗi buồn của tuổi mới lớn:

Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói

Tựa cửa nhìn và nghĩ ngợi gì?

(Xuân Diệu)

Có đọc Hai đứa trẻ mới biết nỗi buồn trong tâm hồn Liên được đong lên từ chính ngoại cảnh. Một đứa trẻ vốn nhạy cảm như Liên lẽ nào không lắng lòng khi ngày qua ngày phải sống quẩn quanh ở một phố huyện nghèo nàn, tịch mịch và đầy bóng tối, khi mỗi ngày phải chứng những con người lặng lẽ kiếm ăn trong bóng tối với nhịp sống uể oải; khi trông thấy mấy đứa trẻ nhặt nhạnh những thứ bỏ đi ngoài chợ, động lòng thương nhưng chính chị cũng không có tiền để mà cho chúng? Sự tương phản, đối lập giữa cuộc sống trong quá khứ và hiện tại đã khiến hai chị em Liên nhận ra đâu là cuộc sống đích thực. Quá khứ thì được sống giữa Hà Nội sáng rực, huyện náo, được đi chơi Bờ Hồ, uống những cốc nước lạnh xanh đỏ nhưng hiện tại, phố huyện tăm tối, lặng lẽ, hai chị em phải giúp mẹ trong hàng và món phở của bác Siêu cũng trở thành thứ quà xa xỉ. Giờ, đêm tối đối với Liên quen lắm, chị không sợ nó nữa nhưng điều đó không có nghĩa là Liên đã thoả hiệp, chấp nhận cảnh sống nơi đây. Trong tâm hồn hai chị em cô bé, chưa khi nào nguôi khao khát một cuộc sống mới, sôi nổi, ồn ã, sáng sủa, khác với nhịp sống buồn tẻ, bằng lặng ở phố huyện. Chính vì thế ngày nào hai chị em cũng có thức đợi bằng được chuyến tàu đêm đi qua phố dù đã buồn ngủ ríu cả mắt. An đã nằm xuống mi mắt sắp sửa rơi xuống, vẫn không quên dặn chị nhớ đánh thức mình dậy khi tàu qua. Điều đó chứng tỏ đoàn tàu có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với đời sống tinh thần của hai chị em.

Tàu đến, khi bác Siêu phát hiện đèn ghi đã ra, Liên cũng trông thấy ngọn lửa xanh biếc, sát mặt đất như ma trơi, nghe thấy tiếng còi xe lửa kéo dài ra theo gió. Mọi giác quan của Liên và An như căng ra để đón nhận thế giới mà đoàn tàu đang mang đến một thế giới rực rỡ ánh sáng: một làn khói bừng sáng trắng tiếng dồn dập, các toa đèn sáng trưng và náo động âm thanh: đồng và kền lấp lánh, tiếng xe rít mạnh vào ghi, tàu rầm rộ đi tới, tiếp đến tiếng hành khách ồn ào… Một thế giới như thế tưởng chừng đã thoả mãn niềm mong mỏi, chờ đợi của Liên, An. Thế nhưng, dường như hai đứa trẻ vẫn còn chút tiếc nuối khi tàu đi rồi mà hai chị em còn nhìn theo cái chấm nhỏ của chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre. Và mặc dù đoàn tàu vụt qua rất nhanh nhưng cả Liên và An đều phát hiện ra rằng tàu hôm nay không động, thưa vắng người và hình như kém sáng hơn. Điều đó chứng tỏ chúng quan sát đoàn tàu rất , tâm hồn hai đứa trẻ rất nhạy cảm với những thay đổi – dù rất nhỏ.

Xây dựng cảnh đợi tàu, Thạch Lam đã mang đến cho những người dân , phố huyện nghèo một thế giới đáng sống với sự giàu sang và rực rỡ của ánh sáng. Nó đối lập với cuộc sống mòn mỏi, nghèo nàn, tối tăm và quẩn quanh của người dân phố huyện. Và hơn hết, nhà văn còn muốn lấy tính những người đang sống quẩn quanh, lam lũ và hướng họ đến một tương lai tốt đẹp hơn. Đó chính là giá trị nhân bản đáng quý của câu chuyện mà Thạch Lam đã trao gửi lại cho người đọc.

Như vậy, cùng viết thể hiện tư tưởng nhân đạo, cùng đồng cảm trước cuộc đời và số phận của những kiếp người khốn khó trong xã hội đương thời, nhưng Nam Cao, Thạch Lam đúng là Mỗi người mỗi vẻ, mười phân vẹn mười. Mỗi người, bằng một cách khác nhau, hoặc âm thầm mà quyết liệt, hoặc nhẹ nhàng mà thấm thía… đã mang đến người đọc những chân cảm sâu sắc về giá trị của cuộc sống. Và như thế, họ đã làm phong phú thêm cho chủ nghĩa nhân đạo trong văn học Việt Nam. Đặc biệt trong hoàn cảnh xã hội, khi “cái tôi” cá nhân đòi đấu tranh giải phóng mạnh mẽ thì tư tưởng nhân đạo của các nhà văn như Thạch Lam, Nam Cao lại càng có ý nghĩa hơn nữa.

Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 không thể thiếu vắng hai nhà văn Thạch Lam, Nam Cao và cả hai – đều xứng đáng là những nhà nhân đạo chủ nghĩa của thời đại.