Đề số 7:  Phân tích bài thơ “Tức cảnh Pác Bó” của tác giả Hồ Chí Minh.

Hướng dẫn

DÀN Ý.

1. Đặt vấn đề:

– Tức cảnh Pác Bó là một trong những bài thơ tứ tuyệt hay nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

– Bài thơ sáng tác trong thời gian Bác Hồ mới về nước (1941) để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng giải phóng dân tộc,

– Nội dung bài thơ toát lên tinh thần lạc quan tin tưởng vào tương lại cách mạng của Bác giữa hoàn cảnh gay go, gian khổ.

2. Giải quyết vấn đề:

Phân tích nội dung và nghệ thuật của bài thơ:

+ Ba câu đầu: Tả thực cảnh sống và làm việc của Bác:

Sáng ra bờ suối, tối vào hang

Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng.

Bàn đá chông chênh, dịch sử Đảng

– Câu 1: Nói về chỗ ở và nếp làm việc hằng ngày: Bác ở trong hang Cốc Bó chật hẹp, ẩm ướt và lạnh lẽo, ngày ngày lặp đi lặp lại nếp làm việc: Sáng ra bờ suối/ tối vào hang, đều đặn, khoan thai như nhịp của trời đất.

– Câu 2: Nói về bữa ăn đạm bạc, quanh quẩn chỉ có cháo bẹ, rau măng thay cơm; vẫn sẵn sàng là luôn luôn có sẵn, không thiếu. Câu 1 thơ thoáng chút vui vẻ, tự hào. Bác hóm hỉnh biến sự thiếu thốn vật chất thành sự giàu sang tinh thần. Nhịp điệu thơ ung dung, khoan hoà, thể hiện phong thái an nhiên tự tại của Bác.

– Câu 3: Nói lên phương tiện làm việc và công việc của Bác, Bàn đá chông chênh: bàn làm việc chỉ là tảng đá ven suối, đơn giản, tạm bợ, không chắc chắn. Lịch sử Đảng: Bác dịch cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Nga ra tiếng Việt để làm tài liệu học tập cho cán bộ, đảng viên. Đây là công việc quan trọng có tính chất đặt nền móng lí luận cho phong trào cách mạng giải phóng dân tộc. Câu thơ có sự tương phản rõ rệt giữa hai vế, nhấn mạnh tầm nhìn chiến lược xa rộng của lãnh tụ Hồ Chí Minh.

– Câu 4: Tinh thần lạc quan cách mạng của Bác. Bác khẳng định: Cuộc đời cách mạng thật là sang!

Đây là câu thơ trữ tình thể hiện cảm tưởng chung của Bác về cuộc sống trước mắt lúc bấy giờ. Tuy nhiên thực hết sức gian khổ nhưng đằng sau lời thơ vẫn ẩn chứa một niềm vui bắt nguồn từ lòng tin vững chắc vào tương lai cách mạng. Tinh thần lạc quan cách mạng của bài thơ kết tụ ở từ sang và ánh sáng tâm hồn Bác toả chiếu làm rạng ngời cả bài thơ.

3. Kết thúc vấn đề:

– Bài thờ tứ tuyệt ngắn gọn, hàm súc giúp chúng ta hiểu thêm về quãng đời hoạt động cách mạng gian nan của Bác Hồ.

– Bác đã vượt mọi khó khăn, gian khổ để sống ung dung thanh thản, làm chủ hoàn cảnh và tin tưởng tuyệt đối vào tương lai tươi sáng của đất nước và dân tộc.

– Bài thơ là bài học thấm thía về quan điểm sống đúng đắn, tích cực của người chiến sĩ cộng sản chân chính.

BÀI LÀM

Tức cảnh Pác Bó là một trong những bài thơ tứ tuyệt hay nhất, tiêu biểu nhất thuộc loại cảm hứng trữ tình của Bác Hồ. Bài thơ thể hiện niềm vui, niềm tin mãnh liệt và nghị lực phi thường của Người khi về sống và làm việc giữa núi rừng Việt Bắc sau bao ngày xa cách đất nước:

Sáng ra bờ suối, tối vào hang

Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng.

Bàn đá chông chênh, dịch sử Đảng.

Cuộc đời cách mạng thật là sang!

Thơ tứ tuyệt thường ngắn gọn, hàm súc nên muốn hiểu ý thơ, trước hết phải nắm được hoàn cảnh sống của tác giả và thời điểm sáng tác bài thơ.

Tháng 6 – 1940, thực dân Pháp đầu hàng phát xít Đức. Lúc này, Bác đang ở Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc) liền chớp lấy thời cơ, chuẩn bị về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Tháng 2 năm 1941, Bác về tới Pác Bó và chọn nơi này làm địa điểm hoạt động. Hoàn cảnh sống của Bác rất thiếu thốn, gian lao. Trời rét, người yếu nhưng Bác phải ở trong một cái hang nhỏ, ẩm ướt. Ăn uống hết sức kham khổ, phần lớn là cháo ngô và rau rừng. Hằng ngày, Bác làm việc trên một phiến đá bên bờ suối.

Thiếu thốn, gian khổ không làm Bác bận lòng. Tâm trạng của Người lúc ấy là quên hết mọi gian nan, một mực phấn chấn, tin tưởng vào phong trào cách mạng đang lên mạnh.

Ba câu đầu của bài thơ có tính chất tự sự, kể về cảnh sống và làm việc của Bác. Câu thứ nhất nói về nơi ở, câu thứ hai nói về món ăn, câu thứ ba nói về điều kiện làm việc, câu thơ thứ tư là câu trữ tình, là cảm tưởng chung của Bác về cuộc sống trước mắt lúc bấy giờ. Tuy hiện thực hết sức gian khổ nhưng đằng sau lời thơ vẫn ẩn chứa một niềm vui bắt nguồn từ lòng tin vững chắc vào tương lai cách mạng.

Sáng ra bờ suối, tối vào hang.

Cái hang Bác ở là hang Cốc Bộ. Chỉ khoảng hơn một mét vuông, đáy hang bằng phẳng, đủ kê một tấm ván thay cho giường; còn thì chỗ lồi cao, chỗ lõm sâu. Không khí lạnh lẽo, ẩm thấp, cách cửa hàng mấy thước là một dòng suối nhỏ. Ra một quãng không xa, suối rộng dần, chảy sát chân một ngọn núi. Sau này, Bác đặt tên là suối Lê-nin và núi Mác. Cái bàn làm việc là một phiến đá kê trên hai hòn đá, bên cạnh đó là một hòn đá khác thấp hơn làm ghế. Bàn đá ấy đặt gần bờ suối.

Cảnh sinh hoạt của Bác chia làm hai phần: một là hang, hai là suối. Hành động cũng chia hai: ra suối, vào hang. Thời gian biểu hằng ngày đều đặn: sáng ra, tối vào. Ra bờ suối là để làm việc, vào hang là để nghỉ ngơi. Sự thật gần như tẻ nhạt tầm thường. Thực ra, chất thơ giấu trong âm điệu. Vẫn là nhịp 4/ 3 hay 2 / 2 / 1 / 2 của câu thơ cách luật bảy chữ, nhưng lông vào trong đó là cái đều đặn, khoan thai như nhịp của trời đất. Sáng rồi tối, tối rồi sáng; ra rồi vào, vào rồi ra… đơn giản, quen thuộc mà bền vững, ung dung.

Cái gian khổ của hoàn cảnh sống, sự hiểm nguy do kẻ thù luôn rình rập… tất cả đều lặn chìm, tan biến trước phong thái an nhiên, tự tại của Bác Hồ.

Cháo bẹ, rau măng vẫn sẵn sàng

Câu thơ miêu tả bữa cơm đơn sơ, đạm bạc, chỉ có cháo ngô và măng dang, măng nữa thay rau. Bữa ăn như thế cứ lặp đi, lặp lại ngày ngày. Vẫn sẵn sàng nghĩa là các thứ đó luôn luôn sẵn có. Mặt khác, dường như cháo bẹ, rau măng còn nhắc tới sự thanh đạm và cao khiết của người quân tử. Sự thiếu thốn đã chuyển thành phong lưu. Xưa là tượng trưng, nay hoàn toàn là sự thật. Chỉ phớt qua một chút xưa là câu thơ thêm ý vị.

Loading...

Nhưng ý vị nhất vẫn là giọng điệu. Cháo bẹ rau măng cũng như sáng ra, tối vào, như bờ suối với hang; vẫn là nhịp điệu an nhiên, khoan hoà bên trong. Ba chữ vẫn sẵn sàng nâng lên thành một lời bình phẩm với giọng điệu lạc quan, gần như tự hào, nghĩa là an nhiên ở mức cao hơn.

Hai câu thơ đầu nêu lên hiện thực, câu thơ thứ ba bắt đầu là trữ tình. Ở trên, hình ảnh con người còn đang ẩn thì đến đây đã hiện ra sống động và có thái độ rõ ràng:

Bàn đá chông chênh, dịch sử Đảng

Nếu thấp thoáng trong cụm từ vẫn sẵn sàng mới là một chút vui thì đằng sau tính từ chông chênh đã là một nụ cười hóm hỉnh, thâm thuý. Chông chênh vốn nghĩa là không vững chãi, không có chỗ dựa chắc chắn. Chiếc bàn đá của Bác quả là chông chênh thật. Đó là thứ bàn làm việc bất đắc dĩ. Nhưng hàm ý của từ chông chênh không chỉ nhằm nói tới cái bàn đá cụ thể mà là ẩn dụ về muôn vàn khó khăn của cách mạng nước ta và cách mạng thế giới. Năm ấy, phe phát xít đang thắng trận khắp nơi. Vậy mà ở cái thế chông chênh đó, Bác Hồ vẫn bình tĩnh dịch sử Đảng (Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, viết bằng tiếng Nga). Bác dịch cho cán bộ ta đọc và học tập những kinh nghiệm phong phú báu để vận dụng vào phong trào đấu tranh cách mạng trong nước.

Đó là việc xây dựng nền móng cho cách mạng Việt Nam về mặt lí luận – một điều hết sức cần thiết. Đem đối lập tính chất nghiêm túc, quan trọng của công việc với cái vẻ chông chênh của bàn đá, mới nghe tưởng chừng có chút đùa vui nhưng kì thực lại mang ý nghĩa thật lớn lao về đấu tranh cách mạng – một ý nghĩa chiến lược.

Nhớ lại thời gian đó, cả thế giới đang đứng trước nguy cơ chìm đắm trong thảm hoạ phát xít. Vậy mà Hội nghị Trung ương Đảng ta lần thứ 8 (tháng 5 – 1941) vẫn quyết đoán rằng cách mạng sẽ thắng lợi. Đó chẳng phải là trong chông chênh tình thế mà vẫn khẳng định một cách chắc chắn rằng thắng lợi của cách mạng sẽ huy hoàng đi vào lịch sử hay sao?

Lắng nghe giọng điệu câu thơ mới thấy thật rõ. Ở nhịp 4 (Bàn đá chông chênh), âm thanh tuy có gồ ghề nhưng phần nào còn nhẹ nhõm (3 thanh bằng, 1 thanh trắc), gợi liên tưởng đến tình thế nguy hiểm; nhưng ở nhịp 3 (dịch sử Đảng), trái lại âm thanh rắn, vững, tỏ rõ ý chí kiên quyết chiến đấu và tin tưởng. Tất cả toát lên một tư thế chủ động, vững vàng trước mọi nguy nan, điểm thêm một nụ cười thanh thoát, cao vời.

Người xưa khi bất đắc chí thường lánh về chốn núi rừng để vui thú lâm tuyền, nhưng Bác lại khác. Bác đến với núi rừng không phải với mục đích ở ẩn mà là để mưu tính cho từng bước đi của cách mạng.

Nếu ở ba câu đầu, niềm vui, niềm tự hào còn ẩn chứa bên trong thì đến câu thơ kết nó đã hiển hiện rõ ràng qua từ ngữ, tiết tấu và âm hưởng. Ý thơ tăng tiến dần, cái nghèo đã biến thành cái giàu có, phong lưu và Bác khẳng định:

Cuộc đời cách mạng thật là sang!

Đến đây, suối không chỉ là chỗ làm việc, hang không chỉ là chỗ ngủ mà hang còn mở ra phía suối, tạo nên khung cảnh thoáng đãng đủ chỗ cho nhịp sống của con người hoà vào nhịp của đất trời. Gian nan, vất vả cũng như tan biến luôn vào cái nhịp đều đều, thư thái ấy. Cháo bẹ và rau măng chỉ là những món ăn kham khổ, nghèo nàn nhưng cái kham khổ nghèo nàn ấy đã được nâng lên thành cái sẵn sàng, đầy đủ, thành một thoáng vui. Đến việc dịch sử Đảng trên bàn đá chông chênh thì đã lồng lộng cái thế vững chắc của tiến trình cách mạng giữa gian nguy. Đến đây, Bác tự hào khẳng định: Cuộc đời cách mạng thật là sang! Tinh thần lạc quan của bài thơ tụ lại ở từ sang này. Niềm tin, niềm tự hào lớn lao của Bác toả sáng cả bài thơ.

Chính sự ra vào ung dung, cảm giác về sự đầy đủ vật chất và thái độ kiên định vững vàng trong tình thế chông chênh đã làm nên cái sang ấy. Cái sang trong cuộc đời của con người một lòng một dạ hi sinh phấn đấu không ngơi nghỉ cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, cho tự do hạnh phúc của nhân loại.

Bài thơ tứ tuyệt đã giúp chúng ta hiểu biết sâu hơn về một quãng đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ. Vượt lên mọi khó khăn, gian khổ, Bác vẫn Sống ung dung, thanh thản và tin tưởng tuyệt đối vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Bài thơ còn là bài học thấm thía về thái độ sống và quan điểm sống đúng đắn, tích cực của một chiến sĩ cộng sản kiên cường, cùng phong thái ung dung tự tại của một nhà hiền triết phương Đông.

Theo Yeuvanmau.com